logo

UNG THƯ NGHỀ NGHIỆP

24/04/2017 693

UNG THƯ NGHỀ NGHIỆP

 Ths.BS. Nguyễn Đình Trung

Trưởng khoa Bệnh nghề nghiệp

       Ung thư ngày một phổ biến ở các nước công nghiệp, trung bình 5 người chết có 1 người chết do ung thư và ở những khu công nghiệp thì cứ 3 người chết có một người chết do ung thư như ở Bologna, Italia. Tại Hoa Kỳ năm 1988 hơn 500.000 người chết do ung thư và hơn một triệu người mới mắc ung thư.

      Ung thư nghề nghiệp đã được biết đến từ 1775 do một nhà giải phẫu nổi tiếng người Anh (Percival Pott) mô tả: đó là bệnh ung thư biểu mô ở bìu, bệnh do mồ hóng, xuất hiện ở những người hồi nhỏ làm nghề nạo ống khói. Đến năm 1875 Volkmann nhận xét là những công nhân tiếp xúc với hắc ín hay bị ung thư da. Năm 1915 Yamagiwa và Schikawa đã gây được ung thư thực nghiệm đầu tiên bằng các bôi hắc ín liên tục lên tai thỏ và đến năm 1933 người ta đã tách được chất gây ung thư trong hắc ín là chất 3,4 benzopyren.

      Ngày nay, ung thư nghề nghiệp ảnh hưởng nghiêm trong tới sức khoẻ và tính mạng của công nhân ở các nước phát triển và đang phát triển, chỉ riêng nước mỹ ước tính hàng năm có khoảng 20.000 người chết do ung thư và 40.000 trường hợp mới mắc ung thư do nghề nghiệp. Những nguyên nhân gây ung thư là do công nhân hàng ngày phải tiếp xúc với những yếu tố gây ung thư như: hoá chất, phóng xạ, tia tử ngoại… ngoại trừ những trường hợp ung thư nghề nghiệp cấp tính khi tiếp xúc một lần nhưng với liều rất cao, đa số ung thư do tiếp xúc hàng ngày với một liều lượng rất nhỏ, lên ảnh hưởng có thể xuất hiện sau một thời gian dài tiếp xúc hoặc khi ngừng tiếp xúc một thời gian dài, như có những trường hợp tiếp xúc với amiăng sau 20 -30 năm mới xuất hiện ung thư phổi và sau 30-40 năm mới xuất hiện ung thư màng phổi.

      Năm 1955 qua nghiên cứu Rechards Doll ở 105 công nhân dệt vải amiăng tỷ lệ ung thư phổi ở nhóm công nhân có tuổi đời tiếp xúc trên 20 năm cao gấp 10 lần so với các nhóm khác, điều này khẳng định rằng amiăng là nguyên nhân gây ung thư ở công nhân tiếp xúc.

Mỗi năm có hàng vạn hoá chất mới được phát hiện và đưa vào sử dụng trong sản xuất công nghiệp, hiện nay chưa có một tài liệu nào thống kê được số lượng công nhân phải tiếp xúc với các hoá chất có khả năng gây ung thư (hoá chất đã được chứng minh gây ung thư ở động vật), tại  Mỹ có hàng triệu công nhân phải tiếp xúc với các loại hoá chất gây ung thư này. Số lượng hoá chất được nghiên cứu gây ung thư cho động vật rất ít chỉ dưới 2% lượng hoá chất hiện đang sử dụng. Mặc dù vậy, danh sách những hoá chất có khả năng gây ung thư hiện vẫn đang được sử dụng trong công nghiệp ngày một dài thêm.

      Qua nghiên cứu được tài trợ bởi viện sức khoẻ an toàn nghề nghiệp Hoa Kỳ ở nhóm ngành công nghiệp có tiếp xúc với Chloromethyl ete cho thấy ở 12 công nhân tiếp xúc với nồng độ cao và thời gian ngắn thì 33% trong số họ có biểu hiện ung thư phổi trong thời gian từ 15-24 năm.

Một nghiên cứu gần đây với 28.000 hoá chất, hợp chất thì ở những công nhân có thời gian tiếp xúc tích luỹ lâu nhất có biểu hiên ung thư phổi cao hơn 11 lần những nhóm công nhân khác.

      Theo Lee và framann đã báo cáo tỷ lệ ung thư phổi tăng gấp 3 lần trong số 8000 công nhân luyện kim tiếp xúc với asen trioxyt. ở Đức, người ta thấy ung thư phổi và bệnh nhiễm độc asen lâm sàng ở những người trồng nho có liên quan đến việc sử dụng các hoá chất trừ sâu chứa asen trong khi phun hoặc rắc bột.

      Qua nhiều nghiên cứu đã chứng minh được rằng các nhóm amin thơm là nhóm có khả năng gây ung thư đường tiết niệu, trong số đó có benzidin, betanaphtylamin là những nhóm độc nhất.

      Tại Massachusetts Hoa Kỳ ung thư bàng quang ở công nhân làm việc trong ngành công nghiệp thuộc da là khá phổ biến, 20% trường hợp ung thư bàng quang là do nghề nghiệp. Nhiều nghiên cứu tại 10 vùng ở Hoa Kỳ cho thấy 21-25% đàn ông da trắng và 11% phụ nữ da trắng bị ung thư bàng quang do nghề nghiệp.

Ngoài những nguyên nhân do hoá chất các tác nhân vật lý có khả năng gây ung thư là rất nhiều và nghiêm trọng. ví dụ: tia X có khả năng gây ung thư biểu mô tế bào gai, ung thư phế quản, ung thư tuyến giáp, ung thư hệ thống tạo máu, ung thư máu.

      Theo Wang 1990 tại Trung Quốc, so sánh ung thư tuyến giáp ở 27.000 nhân viên X - quang và 25.000 bác sỹ không tiếp xúc với tia X có sự khác biệt có ‎ý nghĩa thống kê.

      Roffo cho rằng các tia 2.500- 3.000A có khả năng làm tăng cholesterol trong máu và sự tăng cholesterol này gây ung thư, điều này chứng minh được những trường hợp nông dân, thuỷ thủ, đã gặp ung thư da ở tai, mũi, mi mắt, mu bàn tay. Các tia cực tím ở hàn hồ quang có khả năng phát sinh ung thư.

      Việt Nam theo một nghiên cứu hồi cứu của Nguyễn Văn Sơn và cộng sự ở hai cơ sở điều trị ung thư tại Hà Nội là: Bệnh viên K và khoa u biếu bệnh viên Thanh Nhàn cho thấy tổng số 17.281 bệnh nhân ung thư và điều trị tai hai cơ sở này có 1.088 bệnh nhân là công nhân ( chiếm 6,3%) trong đó: ung thư khoang miệng là 27,6%, ung thư tổ chức tạo huyết 9,3%, ung thư phổi 9,3%, ung thu bộ phận sinh dục 11,3%... nhưng ở nghiên cứu này chưa đưa ra được nguyên nhân của các bệnh nhân ung thư trên và cũng không xác định được công việc trực tiếp và yếu tố lao động của những bệnh nhân đó vì trong bệnh án không có mục khai thác tiến sử tiếp xúc nghề nghiệp và cũng không có hồ sơ về quá trình lao động và tiếp xúc nghề nghiệp của những bệnh nhân đó.

      Hiện nay ở nước ta chưa có một nghiên cứu nào đánh giá về tình trạng ung thư nghề nghiệp. Và cũng chưa có một hệ thống nào theo dõi được ung thư ở công nhân có tiếp xúc nghề nghiệp với các yếu tố có khả năng gây ung thư. Ung thư nghề nghiệp chưa được đền bù hoặc bảo hiểm.

      Ung thư nghề nghiệp là một bệnh có thể phòng tránh được cho công nhân bằng các biện pháp phòng hộ tại nơi sản xuất và các giải pháp kỹ thuật; dây truyền sản xuất, bố trí máy móc, thiết kế sao cho công nhân tránh phải tiếp xúc với hoá chất độc hoặc các yếu tố gây ung thư. Nếu có thể phải thay thế các chất độc đối với công nhân bằng các chất không độc…

      Về mặt y tế chúng ta nên tiên hành các đánh gía về nguy cơ ung thư ở một số ngành, nghề tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố gây ung thư theo khuyến cáo của tổ chức Y tế thế giới và tổ chức lao động quốc tế cũng như các tổ chức an toàn khác. Tập chung phát hiện và phát hiện sớm những trường hợp ung thư nghề nghiệp để có biện phòng phòng ngừa cho những công nhân khác trong cùng môi trường làm việc.

      Có chế độ đền bù, bảo hiểm cho những công nhân được xác định là ung thư do nghề nghiệp

QUÁ TRÌNH TIẾN TRIỂN TỰ NHIÊN CỦA UNG THƯ

      Mỗi loại ung thư đều có sự tiến triển khác nhau, tuy nhiên nếu ung thư không được điều trị thì sẽ diễn biến qua các giai đoạn sau:

1. Giai đoạn khởi đầu

1.1 Bước khởi đầu

     Thường xảy ra rất nhanh, sau khi các tế bào tiếp xúc với các tác nhân gây ung thư: tác nhân vật lý, tác nhân hóa học, tác nhân virus. Các tác nhân này gây ra thương tổn DNA của tế bào không hồi phục

1.2 Giai đoạn thúc đẩy

      Do tiếp xúc liên tục, kéo dài với các chất gây ung thư làm ổn định và duy trì thương tổn đầu tiên.

Bước khởi đầu và giai đoạn thúc đẩy chúng ta chỉ biết được qua mô hình thí nghiệm và những nghiên cứu về dịch tễ ung thư ở người.

1.3 Giai đoạn tiến triển

      Các tế bào nhân lên không kiểm soát được, phát triển độc lập, mất khả năng biệt hóa, xâm lấn cục bộ và cho di căn.

Sơ đồ giai đoạn khởi đầu

      Để dự phòng giai đoạn khởi đầu sinh ung thư người ta phải bảo vệ tránh tiếp xúc với các tác nhân gây ung thư như thuốc lá, benzel, nhiều loại hóa chất khác nhau, tia phóng xạ, virus v.v.

2. Ung thư tiến triển

      Sự tiến triển của bệnh ung thư giải thích được bản chất của bệnh ung thư là gì: khối u phát triển cục bộ tại chỗ, xâm lấn tại vùng và cho di căn toàn thân.

Khi tiến triển ung thư đã xảy ra, có nhiều biện pháp để chống lại sự tiến triển đó:

+ Sàng lọc và điều trị các thương tổn tiền ung thư.

+ Sàng lọc và điều trị những ung thư kích thước còn nhỏ (chủ yếu bằng phẫu thuật hoặc tia xạ).

+ Điều trị tích cực các ung thư đang còn tại chỗ (thường kết hợp với điều trị hỗ trợ hóa trị liệu hoặc nội tiết trị liệu).

Hình 2: Các giai đoạn tiến triển của ung thư

 3. Ung thư di căn

        Di căn ung thư là tình trạng các tế bào ung thư tách rời ra khỏi u nguyên phát để đến cư trú và phát triển thành khối u ở cơ quan khác qua các đường khác nhau: đường bạch huyết, đường
máu, đường kế cận.v.v.

        Di căn theo đường bạch huyết

       + Loại ung thư biểu mô thường di căn đến các trạm hạch bạch huyết khu vực. Khikhối u tiến đến thành bạch huyết, tế bào ung thư xâm lấn nhanh chóng qua thành bạch huyết và được hệ thống lưu thông bạch huyết mang tới trạm hạch đầu tiên. Khi các tế bào ung thư đi đến hạch người ta nhận thấy phản ứng đặc hiệu gọi là viêm bạch mạch mạn tính đặc hiệu (specific chronic lymphadenitis).

       Di căn theo đường máu:

       + Các loại ung thư của tổ chức liên kết (ung thư xương, ung thư phần mềm) thường di căn theo đường máu đến các tạng ở xa như gan, phổi, não.

 

 

 

 Hình 5: Ung thư di căn theo đường máu

        Di căn theo đường kế cận:

       + Di căn hay đi dọc theo mạch máu và thần kinh, theo lối ít bị cản trở, điển hình là ung thư dạ dày lan qua lớp thanh mạc vào ổ bụng gây di căn buồng trứng.

       + Dao mổ, dụng cụ phẫu thuật có thể gây gieo rắc tế bào ung thư ra nơi khác trong phẫu thuật nếu mổ trực tiếp vào khối u.

DỰ PHÒNG UNG THƯ

Mặc dầu đã có những tiến bộ rất lớn trong lĩnh vực điều trị ung thư trong hai thập kỷ qua, nhưng ung thư vẫn còn là một bệnh khó có thể điều trị khỏi.

Tuy vậy khoảng 50% trường hợp bệnh ung thư có thể phòng tránh được. Dự phòng ung thư là một vai trò mới rất quan trọng đối với tất cả các thầy thuốc trong thế kỷ 21. Để chủ động phòng chống ung thư, thầy thuốc phải tính đến khía cạnh luân lý và tự do cá nhân, các chính sách phòng chống tích cực phải dựa vào cơ sở kiến thức khoa học.

1. Hạn chế những tiếp xúc do nghề nghiệp

       Một số bệnh ung thư có liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp. Có một số trường hợp ung thư xuất hiện sau 20-40 năm phơi nhiễm với các yếu tố độc hại vì vậy khó phát hiện.

     Các trường hợp ung thư phổi (do liên quan đến amiăng và các chất độc hại khác), ung thư khoang mũi (bụi gỗ, niken, crôm), ung thư bàng quang (các amin thơm, nhựa than đá) và bệnh bạch cầu (benzen…). Các thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp cũng đóng vai trò trong ung thư bạch cầu, u tủy…

      Dự phòng bệnh ung thư do nghề nghiệp, điều trước tiên và quan trọng cần thực hiện các quy định về an toàn lao động (những chất có nguy cơ gây ung thư cần thay thế, thông gió các cơ sở làm việc, biện pháp bảo hộ cho công nhân ...)

2.Vai trò của thuốc lá

      Người ta đã chứng minh được thuốc lá gây ra nhiều loại ung thư:

+ Bằng các nghiên cứu về dịch tễ học.

+ Bằng những nghiên cứu về thành phần chứa trong thuốc lá.

+ Bằng sự khám phá ra sự thương tổn gen đặc hiệu của tế bào khối u và tế bào bình thường ở những người hút thuốc.

+ Bằng sự phát triển những kiến thức cơ bản về sự chuyển hóa của amines của thuốc lá.

Qua nghiên cứu dịch tễ học và sinh học có sự liên quan rõ rệt giữa thuốc lá và các ung thư sau đây:

+ Phổi

+ Thanh quản + Khoang miệng + Vòm mũi họng + Bàng quang

Nghiên cứu về thành phần chứa trong thuốc lá người ta đã tìm thấy hơn 4000 loại hóa chất, một số hóa chất chính gây ra ung thư:

+ Polycyclic aromatic hydrocarbons

+ Nitrosamines

+ Heterocyclic hydrocarbons + Benzen

+ Radioactive 210-polonium

      Tất cả những hóa chất độc trên có thể gây ra sự khởi đầu và thúc đẩy quá trình sinh ung thư. Phương pháp dự phòng tích cực nhất là không nên hút thuốc lá đối với những người chưa hút đặc biệt là trẻ em, với những người đã hút phải có hình thức hỗ trợ để người hút thuốc từ bỏ thuốc lá và các biện pháp nhằm giảm thiểu tác hại của thuốc lá như cấm hút thuốc nơi công cộng, in hình logo lên bao thuốc.v.v.

3. Hoá dự phòng trong ung thư

       Người ta nhận thấy rằng một số loại thuốc giúp dự phòng ung thư:

+ Sử dụng Tamoxifen (anti-estrogen) dự phòng ung thư vú trường hợp có nguy cơ cao về yếu tố gia đình. Nghiên cứu lớn ở Hoa kỳ cho kết quả tốt. (NSABP Breast cancer prevention trial P-1)

+ Sử dụng một số loại thuốc kháng oestrogen khác (raloxifen) để phòng loãng xương ở những phụ nữ mãn kinh giúp dự phòng ung thư nội mạc tử cung (ASCO 2005).

+ Sử dụng các thuốc kháng androgen (finasteride) để dự phòng ung thư tiền liệt tuyến.

+ Sử dụng các thuốc kháng viêm non-steroid để dự phòng ung thư đại tràng.