logo

Nước và các bệnh liên quan đến nước (tiếp)

08/10/2014 349
2.2. Bệnh do tiếp xúc với nước

Những bệnh này có thể lây truyền qua tiếp xúc với các vi sinh vật gây bệnh trong nước ví dụ như bệnh sán máng (Schistosomia). Những người bơi, lội dưới nước có loài ốc bị nhiễm những sinh vật gây các bệnh này sinh sống có thể bị nhiễm các ấu trùng sán máng do các ấu trùng rời khỏi cơ thể ốc vào nước có thể xuyên qua da người đang bơi hoặc lội trong nước và gây viêm da.

Biện pháp phòng bệnh

- Cung cấp nước sạch và tuyên truyền giáo dục người dân tránh tiếp xúc với nguồn nước bị nhiễm bẩn.

- Thu gom và xử lý phân người và động vật hợp vệ sinh.

2.3. Các bệnh do muỗi truyền

Các bệnh trong nhóm này phải kể đến là bệnh sốt rét, sốt dengue, sốt xuất huyết dengue, bệnh giun chỉ, v.v. Côn trùng truyền bệnh trung gian là các loại muỗi, trong đó nước đóng vai trò là môi trường sống của các sinh vật truyền bệnh.

Một số vùng có tập quán dự trữ nước trong bể chứa nước mưa, chum, vại ở nông thôn. Ở thành phố dù có nước máy nhưng vẫn dự trữ trong bể chứa, thùng, chậu. Trên mặt đất có nhiều vũng nước đọng, nhiều vật chứa nước lâu ngày, tất cả là những ổ sinh sản và phát triển của nhiều loại muỗi, trong đó có nhiều loại muỗi gây bệnh nguy hiểm cho người.

- Muỗi gây bệnh sốt rét gồm 4 loại chính: Anophen minimus, Anophen dirus, Anophen sundaicus, Anophen subpictus.

- Muỗi gây bệnh giun chỉ tên gọi là Tulex pipiens chúng sống trong ao tù nước đọng, các vũng nước bẩn lâu ngày.

- Muỗi gây bệnh sốt xuất huyết là Aedes aegypti và Aedes albopictus. Bệnh sốt xuất huyết là bệnh thường lưu hành địa phương ở Việt Nam, phổ biến ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Trung bộ và các vùng đồng bằng, duyên hải Bắc bộ. Do đặc điểm địa lý, khí hậu khác nhau, ở miền Nam và Nam trung bộ bệnh xuất hiện quanh năm, ở miền Bắc bệnh thường xảy ra từ tháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh và ít mưa, không thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi truyền bệnh. Bệnh sốt xuất huyết phát triển nhiều nhất vào các tháng 7, 8, 9 và 10 trong năm.

 

Hình. Vòng đời của muỗi Aedes aegypti

Muỗi trưởng thành đẻ trứng trong nước, trứng nở thành bọ gậy, bọ gậy lớn lên thành lăng quăng, lăng quăng thành muỗi, muỗi bay ra hút máu người để sống và gây ra bệnh sốt xuất huyết. Chúng là vật chủ trung gian truyền bệnh theo đường máu rất nguy hiểm và khó phòng ngừa.

Biện pháp phòng bệnh

- Làm mất nơi muỗi đẻ, nơi muỗi sinh sản bằng cách: dụng cụ chứa nước phải có nắp đậy, thường xuyên thau rửa dụng cụ chứa nước ăn, khơi thông cống rãnh, loại bỏ các nơi có nước tù đọng, làm khô những vũng nước tù đọng.

- Diệt ấu trùng muỗi: thả cá ăn bọ gậy, lăng quăng trong bể chứa nước.

- Ngủ màn chống muỗi đốt và diệt muỗi bằng phun thuốc, hương diệt muỗi.

2.4. Các bệnh do thiếu nước hoặc sử dụng nước không sạch trong vệ sinh cá nhân

Các bệnh về ngoài da, mắt, phụ khoa như: Hắc lào, nấm, lang ben, ghẻ, chàm, đau mắt đỏ, đau mắt hột, viêm kết mạc, viêm màng tiếp hợp, viêm âm đạo, v.v.

Cách lây truyền: Truyền trực tiếp từ người bệnh sang người lành mà nguyên nhân chính là do thiếu nước hoặc phải dùng nước không sạch để sử dụng trong vệ sinh cá nhân, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày.

Biện pháp phòng bệnh

- Cung cấp đầy đủ nước sạch sử dụng hàng ngày.

- Nâng cao nhận thức của người dân về ý thức vệ sinh cá nhân.

2.5. Bệnh do các vi yếu tố hoá học và các chất độc khác có trong nước

Bệnh do yếu tố vi lượng hoặc các chất độc khác có trong nước gây ra cho người là do thừa hoặc thiếu chúng trong nước. Trong nhóm này có các bệnh sau:

Bệnh bướu cổ

Bệnh phát sinh ở những nơi trong đất, nước, thực phẩm quá thiếu iốt, ví dụ: vùng núi cao, vùng xa biển. Nhu cầu hàng ngày của cơ thể là 200 micro gam iốt, nếu không đủ tuyến giáp phải làm việc nhiều và làm cho bướu cổ to ra. Tuy vậy, bệnh bướu cổ còn do các yếu tố khác như giới tính, địa dư, di truyền, khả năng kinh tế và xã hội.

Bệnh về răng do thiếu hoặc thừa flo

Flo cần thiết cho cơ thể để cấu tạo men răng và tổ chức của răng. Tiêu chuẩn cho phép trong nước uống là 0,7-1,5 mg/l. Nếu flo nhỏ hơn 0,5 mg/l sẽ bị bệnh sâu răng, nếu lớn hơn 1,5 mg/l sẽ làm hoen ố men răng và các bệnh về xương khớp.

Bệnh do Nitrit và Nitrat cao trong nước

Nitrit có thể tác dụng với các acid amin để tạo thành nitrosamin là chất có khả năng gây ung thư.

Nitrat là sản phẩm phân huỷ cuối cùng của chất hữu cơ trong tự nhiên. Nitrat cao trong nước còn do nước bị ô nhiễm nước thải. Trong nước có hàm lượng Nitrat trên 10 mg/l có thể gây bệnh tím tái (đặc biệt đối với trẻ em). 

Bệnh do nhiễm độc bởi các chất độc hoá học gây ra

Nước có thể bị nhiễm bẩn bởi các chất độc hoá học dùng trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày, trong nước thải sản xuất công nghiệp như: kim loại nặng, các chất phóng xạ và các chất gây ung thư.

- Chì (Pb): Nước có các khí CO2 và O2 dưới dạng hoạt tính có thể hoà tan chì ở ống dẫn nước, dụng cụ đựng... hàm lượng chì vượt quá 0,01mg/lít gây nguy hại cho sức khoẻ.

- Đồng (Cu): Nước thải công nghiệp là nguyên nhân của việc nước có kim loại đồng và hàm lượng đồng vượt quá 1mg/lít gây ngộ độc cho con người.

- Asen (thạch tín): Hàm lượng Asen quy định không vượt quá tiêu chuẩn 0,01mg/lít đối với nước ăn uống. Khi bị nhiễm độc Asen có thể gặp nhiều triệu chứng khác nhau như:

§ Sừng hoá da, gai nhọn ở hai bàn tay và bàn chân, ấn vào thấy đau.

§ Xuất hiện các nốt màu sẫm hoặc mất màu trên da ở lưng và vùng bụng, những nơi ít tiếp xúc với ánh sáng mặt trời.

§ Sau 15-20 năm kể từ khi phát hiện, người bị nhiễm độc Asen có thể chuyển sang giai đoạn ung thư.

Nguyễn Thị Bích Thủy

Khoa Vệ sinh và Sức khỏe môi trường 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Bộ Y tế (2010), Hướng dẫn xử lý ổ dịch sốt xuất huyết, Nhà xuất bản Hà Nội.

2.     Trường Đại học Y tế công cộng - Bộ môn Sức khoẻ môi trường (2001), Sức khoẻ môi trường, Nhà xuất bản OXFORD, Bản dịch lần 1.

3.     Trường đại học Y (1998), Vệ sinh Môi trường - Dịch tễ, tập 1 & 2, Nhà xuất bản y học.

4.     Trường Đại học Y Hà Nội - Bộ môn vi sinh vật (1998), Bài giảng vi sinh vật Y học, Nhà xuất bản y học.